THÔNG BÁO
Quản trị doanh nghiệp
9/15/2011 8:51:00 AM
Phát triển kinh tế tri thức trong doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN): Cần sự hỗ trợ từ Nhà nước

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò ngày càng quan trọng và trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và cả thế giới. Ở Việt Nam, số lượng DNVVN là 98% và đóng góp hơn 50% vào tổng GDP. Để phát triển và đóng góp lớn hơn cho kinh tế đất nước, các DNVVN cần phát triển theo tiêu thức của kinh tế tri thức.
Kỷ nguyên của kinh tế tri thức

Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XI của Đảng đã xác định: "phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”. Đây là một trong những chủ trương có vai trò định hướng rất quan trọng trong thời kỳ mới.

Thực ra, ngay từ Đại hội lần thứ IX (năm 2001), lần đầu tiên Đảng ta đã xác định: "Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất” và đề ra định hướng "từng bước phát triển kinh tế tri thức”. Tại Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng ta lại nhấn mạnh "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với từng bước phát triển kinh tế tri thức”. Có thể coi đây là một trong những chủ trương có tính đột phá trong các giải pháp để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta so với các nước đi trước và là nhân tố bảo đảm sự phát triển nhanh, cân bằng, bền vững của nền kinh tế nước nhà trong tương lai.

Trong nền kinh tế tri thức, trước sau gì, các DNVVN cũng phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác dựa trên tri thức của mình và khả năng biến các tri thức đó thành giá trị thông qua sản phẩm hay dịch vụ. Việc phát triển các doanh nghiệp, đặc biệt là DNVVN theo các tiêu thức của kinh tế tri thức sẽ giúp nâng cao sức cạnh tranh, nâng cao chất lượng hàng hóa và vươn ra thị trường quốc tế. DNVVN sẽ phải tự thích nghi với điều kiện mới để có thể tồn tại và phát triển.

Tuy nhiên, theo TS. Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hội DNVVN Việt Nam, đối với các DNVVN việc nâng cao năng lực dựa trên tri thức và khả năng đổi mới vẫn còn hạn chế. Các DN là cơ sở tiếp nhận, triển khai những tiêu thức của kinh tế tri thức song nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp còn chưa rõ, không được phổ cập. Nhà nước không có thể chế quy định, cũng chưa có bộ máy quản lí riêng để thực hiện, thúc đẩy việc áp dụng kinh tế tri thức tại các DNVVN. Bởi vậy, việc triển khai trong các doanh nghiệp mới chỉ ở mức độ, mang tính tự phát, chưa thành bài bản, chưa thành hành động có tính đồng bộ của mỗi người lãnh đạo xí nghiệp, công ty... cũng như người công nhân.

Mặc dù những cơ chế, chính sách của Nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức chưa thực sự toàn diện và đồng bộ song bản thân các doanh nghiệp, dưới sức ép của cạnh tranh trong kinh tế thị trường, đã phải tự đổi mới, tự vươn lên để tồn tại, phát triển. Điều này thể hiện ở sức cạnh tranh một số mặt hàng sản xuất trong nước dần dần tăng lên do chất lượng được cải thiện, chi phí giảm. Nếu như trước đây, bánh kẹo, bia của Trung Quốc chiếm thị phần lớn thì giờ hàng Việt Nam đã chiếm lĩnh thị trường trong nước và dần vươn ra thế giới. Đó là biểu hiện của việc chúng ta đã từng bước biết khai thác áp dụng kinh tế tri thức vào trong sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, một số lĩnh vực như chế biến thủy sản, hàng tiêu dùng đồ gỗ, may mặc, chế biến nông sản đã có nhiều doanh nghiệp thành công, số lượng doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng nhiều. Nguyên nhân là do áp dụng khoa học-công nghệ, quy trình quản lý mới.

Cần sự nỗ lực từ 3 phía

"Phát triển kinh tế tri thức trong DNVVN bao gồm các vấn đề áp dụng khoa học-công nghệ kể cả trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; nâng cao năng lực dự báo, dự đoán tình hình kinh tế thế giới, trong nước cũng như ngành sản xuất mà doanh nghiệp đang tham gia, nắm vững những qui định, thông lệ quốc tế. Ngoài ra, áp dụng quản lí tri thức, để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả, làm sức cạnh tranh hàng hóa tăng lên. Một vấn đề khác là trình độ ứng xử, giao tiếp, khả năng quảng bá giới thiệu thương hiệu” - TS. Cao Sĩ Kiêm nhận định.

Để DNVVN có thể làm tốt những yêu cầu này, sự hỗ trợ của Nhà nước là rất cần thiết. Nhà nước cần có chính sách, cơ chế giúp doanh nghiệp tiếp cận, tiếp thu và áp dụng nhanh các tiến bộ khoa học-công nghệ. Nhà nước cũng phải hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu, nắm bắt, triển khai thị trường, xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu. Đồng thời, phải có chính sách đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu của kinh tế tri thức. Đây là những vấn đề lớn mà Nhà nước phải đảm nhận vì một doanh nghiệp đơn lẻ không thể làm được.

Ngày nay, công nghệ ngày càng phát triển đa dạng và phong phú. Trong "rừng công nghệ” đó, doanh nghiệp cần Nhà nước định hướng tập trung vào công nghệ nào và ở mức độ nào? Một DNVVN đầu tư hàng loạt máy móc thì khả năng lãng phí rất lớn và cũng không có đủ nguồn lực để đáp ứng được điều này. Vì thế, phải có phân công và có chiến lược phát triển như chiến lược công nghiệp phụ trợ, vệ tinh, chiến lược cho các ngành công nghiệp đầu đàn. Nhà nước quy hoạch chiến lược, các ngành, doanh nghiệp căn cứ vào đó phát triển, tiếp thu. Ngoài ra, cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ các ngành, doanh nghiệp thực hiện chiến lược đó. Đồng thời tổ chức mạng lưới, con người cụ thể để thực hiện.

Trong quá trình ấy, vai trò của các hiệp hội ngành nghề rất quan trọng. Có nhiều việc chỉ hiệp hội ngành nghề mới có thể giúp đỡ được doanh nghiệp. Chẳng hạn như các vụ kiện chống bán phá giá trong ngành thủy sản, dệt may, hiệp hội phải đứng ra liên kết và giúp đỡ doannh nghiệp.

Bên cạnh đó, sự nỗ lực từ chính bản thân các doanh nghiệp cũng là yếu tố then chốt. Tự đổi mới, áp dụng tiến bộ khoa học-công nghệ, nâng cao năng lực quản lý là những yếu tố giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững.

Nguyễn Duy Đông
Xem ý kiến
  
Tên bạn (*)
Email  (*)
Điện thoại
Tiêu đề
Nội dung  (*)
 Xem bài theo ngày tháng