THÔNG BÁO
Kinh nghiệm quốc tế
8/23/2010 11:16:00 AM
Kinh nghiệm quốc tế về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp và đề xuất định hướng cho Việt Nam

Phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải công nghiệp (sau đây gọi tắt là phí nước thải) là công cụ quản lý quan trọng nhằm giảm ô nhiễm các nguồn nước và tạo nguồn thu phục vụ công tác BVMT. Trên thế giới, loại phí này đã được áp dụng ở từ những năm 70 của thế kỷ XX.

Ở Việt Nam, phí nước thải được bắt đầu triển khai từ năm 2003 sau khi ban hành Nghị định 67/CP. Tuy nhiên, sau gần 7 năm thực hiện, việc thu phí BVMT đối với nước thải ở nước ta đã bộc lộ nhiều bất cập. Tỷ lệ thu phí chưa cao, đặc biệt là chưa đạt được mục tiêu giảm xả thải chất ô nhiễm vào nguồn nước do các chủ nguồn thải vẫn tiếp tục gia tăng việc xả thải gây ô nhiễm môi trường nước.

Để góp phần tìm ra nguyên nhân của bất cập trên, xin điểm lại cơ sở lý luận của việc thu phí, kinh nghiệm của một số nước, từ đó đề xuất một số định hướng nhằm tăng cường hiệu quả thu phí nước thải ở Việt Nam.

1. Cơ sở lý luận

Tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển năm 1992 ở Rio De Raneiro (Braxin), 178 nước đã thông qua các nguyên tắc Rio. Nguyên tắc Rio 16 chỉ rõ: "Các Chính phủ cần đẩy mạnh áp dụng các chính sách nhằm nội hóa các yếu tố ngoại ứng môi trường và thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chi trả". Nguyên tắc này nhằm giải quyết một trong những nguyên nhân sâu xa của ô nhiễm môi trường là các yếu tố ngoại ứng môi trường (Externalities). Ngoại ứng xuất hiện khi một quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của một cá nhân hay một tổ chức làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất hay tiêu dùng của những người khác mà không thông qua giá cả thị trường. Vì có ngoại ứng nên tổng chi phí của việc sản xuất một sản phẩm cần bao gồm 2 chi phí: chi phí sản xuất trực tiếp ra sản phẩm và chi phí thiệt hại môi trường do ô nhiễm gây ra. Do vậy, để điều chỉnh hành vi gây ô nhiễm, cần có công cụ thuế và phí để hạn chế các yếu tố ngoại ứng này. Nhà kinh tế học người Anh Pigou (1877 - 1959) là người đề xuất loại thuế/phí này và vì vậy các loại thuế/phí môi trường còn được gọi là thuế/phí Pigou.

Theo lý thuyết về thuế/phí Pigou, để đạt được mức độ tối ưu trong việc hạn chế ô nhiễm bằng việc áp dụng thuế/phí, cần tuân thủ 2 nguyên tắc sau: Tất cả các đơn vị của chất gây ô nhiễm (các đơn vị trên và dưới tiêu chuẩn) chịu chung một mức phí; Tất cả đối tượng xả thải trả chung một mức phí đối với một đơn vị xả thải.

2. Một số kinh nghiệm quốc tế

Phí BVMT đối với nước thải nói chung, nước thải công nghiệp nói riêng là một trong những công cụ kinh tế chủ yếu được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường. Giống như các loại thuế hay phí môi trường khác, phí nước thải dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polutter Pays Principle), qua đó tạo động lực để các doanh nghiệp giảm ô nhiễm, đồng thời tạo nguồn thu để chi trả cho các hoạt động BVMT. Phí nước thải đã được áp dụng từ khá lâu ở nhiều nước phát triển (từ năm 1961 ở Phần Lan, năm 1970 ở Thụy Điển, năm 1980 ở Đức) và đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong việc quản lý ô nhiễm do nước thải gây ra. Phí nước thải cũng được áp dụng ở các nước đang phát triển trong thời gian gần đây: Năm 1978 ở Trung Quốc và Malaixia, năm 1996 ở Philipin. Ở các nước ASEAN, hiện chỉ có Malaixia và Philipin áp dụng phí nước thải ở quy mô cả nước. Thái Lan bắt đầu áp dụng ở quy mô thành phố từ 2000 và đang trong quá trình nghiên cứu nhằm áp dụng ở quy mô cả nước.

Xin phân tích sâu trường hợp áp dụng ở Trung Quốc và Philipin, 2 nước có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội với Việt Nam.

Trung Quốc

Phí nước thải được quy định trong Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường 1979. Trong những năm 1979 - 1981, phí ô nhiễm được áp dụng trên cơ sở thử nghiệm ở 27 tỉnh/TP, dưới sự giám sát trực tiếp của Chính phủ. Từ năm 1982 việc thực hiện được áp dụng trên toàn quốc. Có thể chia cách tính phí thành hai giai đoạn.

Giai đoạn trước 2003

Trước hết, tất cả các thông số ô nhiễm trong nước thải đều được đo kiểm. Sau đó, các thông số ô nhiễm được xếp theo thứ tự từ mức ô nhiễm cao nhất đến thấp nhất. Việc tính phí dựa trên thông số có mức ô nhiễm cao nhất. Với thông số có mức ô nhiễm cao nhất này, phí được tính dựa trên phần nồng độ vượt quá tiêu chuẩn. Ví dụ như nếu như tiêu chuẩn cho phép (TCCP) là 50 mg/l và nồng độ của chất ô nhiễm là 70mg/l thì chỉ tính phí đối với phần 20 mg/l vượt tiêu chuẩn.

Giai đoạn sau 2003

Việc tính phí nói trên đã bộc lộ một số bất cập. Thứ nhất, việc chỉ dựa vào nồng độ đã khiến các doanh nghiệp đối phó bằng cách pha loãng nước thải. Thứ hai, việc chỉ tính phí dựa trên phần nồng độ vượt quá tiêu chuẩn cũng khiến doanh nghiệp chỉ đối phó sao cho nồng độ chất ô nhiễm đạt tiêu chuẩn chứ không khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xử lý để hạn chế ô nhiễm trong điều kiện tối đa có thể được. Hơn nữa, việc chỉ tính phí đối với thông số ô nhiễm có mức vượt tiêu chuẩn cao nhất không tạo động lực để doanh nghiệp hạn chế ô nhiễm với các thông số khác.

Để khắc phục những bất cập này, năm 2003, hệ thống tính phí nước thải của Trung Quốc đã có một số thay đổi: Việc tính phí được dựa trên tải lượng chứ không chỉ dựa trên nồng độ; Phí được tính với tất cả các đơn vị ô nhiễm (cả đơn vị trên và dưới TCCP); Phí được tính với hơn 100 thông số ô nhiễm trong nước thải. Các tiêu chuẩn do Bộ Môi trường quy định thay đổi tùy thuộc vào từng ngành công nghiệp và mức phí thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm. Ngoài ra, các địa phương có thể đưa ra các tiêu chuẩn chặt chẽ hơn tiêu chuẩn quốc gia và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí do Bộ Môi trường quy định.

Philipin

Giai đoạn thí điểm

Philipin bắt đầu thí điểm áp dụng phí nước thải cho hồ Laguna từ năm 1997. Đây là hồ chứa nước ngọt lớn nhất tại Philipin. Lưu vực hồ bao gồm 5 tỉnh và một phần của Thủ đô Manila. Hồ cung cấp nước ngọt cho khoảng 13 triệu dân sinh sống trong khu vực và cũng là nơi tiếp nhận nước thải của khoảng 10.000 doanh nghiệp. Để giải quyết tình trạng ô nhiễm nước hồ ngày càng gia tăng, tháng 1/1997, Ban quản lý Hồ Laguna đã ban hành quyết định áp dụng phí nước thải.

Đầu tiên, phí nước thải được áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp trọng điểm có mức thải trung bình hàng năm từ 4 tấn BOD trở lên. Từ năm 1998, hệ thống phí được mở rộng, bao gồm tất cả các doanh nghiệp thuộc địa phận hành chính của vùng hồ Laguna và có thải nước thải vào hồ. Các doanh nghiệp này bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, thương mại, các doanh nghiệp công nông nghiệp, các cụm dân cư và các hộ gia đình.

Phí gồm 2 phần: Phí cố định và phí biến đổi. Phí cố định phụ thuộc vào lượng nước thải và số lượng mẫu cần lấy để quan trắc hiện trạng môi trường của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp càng thải nhiều nước thải thì số lượng mẫu cần lấy để quan trắc càng nhiều và mức phí cố định phải nộp càng cao.

Phí biến đổi dựa trên lượng phát thải của BOD hoặc TSS, tùy từng loại hình sản xuất. Đối với các cơ sở chế biến thực phẩm, thuộc da, giết mổ, chăn nuôi, thủy sản, mía đường, sản xuất giấy thì tính theo BOD. Đối với các cơ sở sản xuất xi măng, phân hóa học, sản xuất kim loại, khai khoáng thì tính theo TSS. Mức phí biến đổi tùy thuộc vào nồng độ chất thải trong nước thải. Nếu nồng độ chất ô nhiễm (TSS hoặc BOD) nhỏ hơn 50mg/l thì mức phí là 5 Peso/kg. Nếu nồng độ chất ô nhiễm lớn hơn 50mg/l thì mức phí là 30 Peso/kg chất ô nhiễm thải ra.

Giai đoạn áp dụng toàn quốc từ 2003

Trên cơ sở thành công của giai đoạn thử nghiệm tại hồ Laguna, Chính phủ Philipin đã cho nhân rộng việc áp dụng thu phí nước thải trong phạm vi cả nước từ năm 2003. Tuy nhiên, việc thu phí trong giai đoạn này có một số điều chỉnh nhằm tăng hiệu quả của phí. Thứ nhất, phần phí cố định phụ thuộc lượng nước thải và việc có chứa kim loại nặng hay không. Thứ hai, phần phí biến đổi áp dụng đồng loạt 5.000 Peso/tấn với tất cả các đơn vị ô nhiễm chứ không phân biệt đơn vị ô nhiễm vượt tiêu chuẩn và dưới tiêu chuẩn.

Nhận xét chung

Qua nghiên cứu ban đầu về kinh nghiệm của một số nước cho thấy, việc áp dụng phí nước thải có đặc điểm như sau:

- Phí nước thải là công cụ được áp dụng rộng rãi nhất trong số các công cụ kinh tế.

- Việc áp dụng phí nước thải không gây ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

- Phí nước thải góp phần đáng kể làm giảm ô nhiễm nước vào tạo nguồn thu cho công tác BVMT. Tuy nhiên, mức độ thành công có khác nhau tùy thuộc cơ chế thu. Cụ thể là tỷ lệ thành công cao hơn với các nước có: Cơ chế thu đơn giản; Áp dụng quy mô thí điểm trước khi áp dụng rộng rãi; Áp dụng việc đánh phí với tất cả các đơn vị ô nhiễm (cả đơn vị vượt tiêu chuẩn và không vượt tiêu chuẩn); Tách riêng phí cố định (phí hành chính) và phí biến đổi (phí đánh vào đơn vị ô nhiễm).

- Đa số các nước sử dụng phí nước thải để tái đầu tư vào các hoạt động BVMT.

- Để việc thu phí hiệu quả cần hệ thống kiểm tra, giám sát tốt, xử phạt nghiêm minh những đơn vị không đóng phí. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống quản lý môi trường trong các doanh nghiệp để tăng tính công khai, minh bạch của các số liệu xả thải.

3. Một số kiến nghị cho việc áp dụng ở Việt Nam

Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam, xin có một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả của việc thu phí nước thải ở Việt Nam.

- Áp dụng 2 loại phí: phí cố định (phí hành chính) và phí biến đổi.

- Tập trung vào một số đối tượng có lượng nước thải, lượng chất ô nhiễm lớn, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Với các đối tượng có lượng xả thải nhỏ, chỉ áp dụng phí cố định. - Đơn giản hóa cách tính phí, có thể chỉ dùng thông số TSS và COD để tính phí.

- Giữ nguyên cách tính phí cho tất cả các đơn vị ô nhiễm vượt tiêu chuẩn và dưới tiêu chuẩn như hiện nay.

- Thu phí một năm từ một đến hai lần để giảm chi phí hành chính và đi lại của cán bộ thu phí.

- Xử phạt nghiêm các cơ sở không đóng phí nhằm tạo kỷ cương chấp hành pháp luật cũng như tạo công bằng giữa các cơ sở đóng phí và không đóng phí.

- Tăng cường áp dụng hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp phải định kỳ công bố các hoạt động xả thải của đơn vị mình nhằm tăng tính minh bạch và tính chính xác của số liệu khai báo.

- Thường xuyên đánh giá, điều chỉnh cách thức thu phí.

Tài liệu tham khảo chính:
- US EPA, 2004. International Experience with Economic Incentives for Protecting the Environment.
- Laplante, B. 2006. Review of implementation of Decree 67/2003 on environmental protection charges for wastewater in Vietnam.

TS. Đỗ Nam Thắng
Viện Khoa học quản lý môi trường
Tạp chí môi trường số 7 năm 2010
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Xem ý kiến
  
Tên bạn (*)
Email  (*)
Điện thoại
Tiêu đề
Nội dung  (*)
 Xem bài theo ngày tháng